Hình 20, sơn Thân hướng Dần, lập vào vận 1.


Cuộc này phương Cấn có đại thủy phóng quang, hai phương Kiền Đoài cũng có ánh nước trong chiếu lấp lánh.
Lập hướng Dần những năm đầu bất lợi, đến vận 5 vận 6 thì đại vượng tài đinh. Sau khi qua vận 7 thì nhân đinh hiếm mà tài cũng thoái. Do vận không đắc lệnh, sao cũng không đắc lệnh, e rằng phải thẹn vì có chuyện nam nữ dâm loàn.
Vận Nhất Bạch lập huyệt này, thủy quang ở hướng, nhưng lại chủ về hung hiểm bất lợi. Vận 6 vận 7 thì thủy ở hai cung Kiền Đoài là đại vượng tài đinh. Qua vận 7, hướng tinh nhập trung cung, sao không đắc lệnh (đây là nói phi tinh Thất ở đầu hướng), Nhất Bạch đáo hướng, vận không đắc lệnh, đầu hướng Tứ Thất, chủ về nữ nhân dâm loàn; khách tinh Nhất Bạch tới hướng, chủ về đàn ông dâm đãng. Xem đây có thể biết, bàng khí thông nhau, cũng chủ về vượng tài đinh 40 năm. Học giả có thể lấy cuộc này làm phép tắc.
Tắc Tiên giải thích:
Hướng tinh mà nhập trung cung là chủ về người hiếm mà tài thoái, phải luận thủy ở hướng là hung sát. Nên cẩn thận chớ lầm với thủy vượng đương nguyên. Qua trường hợp này có thể biết sao nhập trung cung thì không chú trọng vận tinh, nhưng phải kỵ hướng tinh, và khác biệt với khí hai bên (bàng khí).
Trọng Sơn viết: “Lập hướng Dần những năm đầu bất lợi” xét nguyên nhân là do hướng tinh của hướng Dần là Thất Xích ở vận 1 là sát khí. Nếu thấy thủy là sát thủy. Còn Nhất Bạch của vận 1 là sao đương nguyên, theo Ngũ Hành Huyền Không là thuộc thủy, tối kỵ thấy sát thủy Thất Xích.
Vận 7, trạch này phương cấn thấy thủy vốn chủ về tài vượng, nhưng trái lại, tại sao lại phải luận hung? Chúng ta thử nghiên cứu như sau:
1. Phương Cấn là Bát Bạch sinh khí, nên thoáng đãng, thấy thủy thì phải luận hung.
2. Cát tinh nhập tù.
3. Phương Đoài là sao Thất Xích bài bố tới, luận là chính thần, nên trống trải bằng phẳng, nếu phương này có thủy là phạm chính thần há thủy, luận đại hung.
Tổng hợp các điểm trên, trạch này vào vận 7 hung nhiều cát ít.