

Hình 18, sơn Quí hướng Đinh, lập ở vận 1.
Cuộc này thủy từ phương Khôn uốn lượn chảy tới, hội tụ ở phương Tốn, đến phương Cấn thì đi mất.
Chương Trọng Sơn viết:
Mộ này sau khi táng, ứng phòng trưởng phát tú; người ở phòng thứ đại thịnh, tài cùng vượng. Do được sao Phụ mà thành năm điều cát (ngũ cát).
Hỏi thì chủ trả lời: “Trước giàu trăm vạn, nay chỉ còn nửa trăm mà thôi!”
Thẩm Trúc Nhưng chú:
Nhất Lục Bát đều tới ở hướng, lại thấy thủy quang, đúng là khớp với sự huyền diệu của ngũ tinh. Phòng trưởng phát tú nhưng tài không vượng, do Lục là Kiền, Kiền thuộc trưởng, Lục lại là quan tinh, cho nên phát tú, lại thêm kim sinh Khảm thủy ở hướng, gọi là sinh xuất, cho nên tài không vượng. Phòng thứ cả đinh lẫn tú đều đại thịnh mà tài cũng vượng, do song Nhất đáo hướng, Khảm là trung nam, cho nên phòng hai phát.
Tắc Tiên giải thích:
Địa bàn của phương Khôn là Nhị, thiên bàn là Thất, Nhị Thất là đồng đạo. Địa bàn ở phương Tốn là Tứ, thiên bàn là Cửu, Tứ Cửu là bạn bè. Thiên bàn và địa bàn ám hợp số sinh thành, có ao đằm từ xa. Song tinh tới hướng, cả ba phương vị đều có thủy tới ở hướng, rồi hội tụ ở phương Tốn, phối hợp thành môn, cho nên tài vận đương nhiên phải vượng. Nhưng vì Kiền kim sinh Khảm thủy cho nên phòng trưởng chỉ phát tú mà không vượng tài. Qua điều này có thế biết tác giả không chi căn cứ thủy thần của bát quốc, mà còn xét sự sinh khắc liên quan tới đầu hướng để gia giảm luận đoán.
Bạch Hạc Minh giải thích:
Họ Chương luận ngôi mộ tổ này chủ phát phòng nào, là dựa theo quái lý cửu tinh, đây là nội dung chính của Phong Thủy Huyền Không.
Còn Thẩm tiên sinh chú hình này nói Nhất Lục Bát đều tới ở hướng, nhà này hướng Đinh, hai bên là hai phương Tốn Khôn, được ba sao Nhất Lục Bát là ba điều cát (tam cát). Còn ngũ tinh là chỉ vượng khí, sinh khí, tiến khí cộng thêm vào tam cát; vì tam cát tất phải có một sao quy vào trong khí sinh, vượng, tiến, cho nên mới nói là ngũ tinh.
Phương Khôn có thủy tới phối hợp với bí quyết thành môn, nên chủ về vượng tài.