

Hlnh 61, sơn Nhâm hướng Bính, kiêm Hợi Tỵ, lập vào vận 6.
Long từ ngọn núi thấp xuyên qua ruộng ở phương Khảm tới cửa sông; phương Đoài có ruộng thấp giới hạn mạch khí thuần thanh; phương Khôn có nhánh thủy tới minh đường; phương Mùi cũng có một nhánh thủy chảy ngầm tới không nhìn thấy. Phía trước huyệt có thửa ruộng cao ở ba phương vị Thìn Tốn Tỵ không thấy thủy quang. Phương Khảm có sông mở rộng, chảy qua phương Chấn rồi đi mất ở phương Cấn.
Chương Trọng Sơn viết:
Cuộc đất này đáng tiếc phía trước có núi chầu từ xa nhưng không đẹp. Thủy phương Tốn không thể phóng quang tròn sáng, nếu không thì đây là đất xuất hiện trạng nguyên. Nay ngọn núi trạng nguyên không đẹp, đặc biệt phương Tham Lang lại không có thủy, e rằng chút xíu công danh cũng không, chỉ được giàu có mà thôi.
Lời trên đúng cả.
Thẩm Trúc Nhưng chú:
Cuộc này sơn Nhâm hướng Bính kiêm Hợi Tỵ, vận dụng phép Khôn Nhâm Ất (Nói phi tinh ở hướng là Nhất, Nhất tức Nhâm, Nhâm bài bố Cự Môn, không dùng Nhất mà dùng Nhị nhập trung cung, là phép dùng thế quái vậy!). Ở hướng được Nhất Lục Bát, ở sơn cung được Nhất Lục Bát, cho nên Trọng Sơn mới nói đây là cuộc đất trạng nguyên.
Nhưng Nhất Bạch ở phương Tốn là miếng ruộng cao mà không có thủy, ngọn núi trạng nguyên tức là triều sơn, xa nhưng không đẹp, cho nên nói một chút công danh nhỏ nhoi cùng không có, chỉ giàu có mà thôi. Nếu triều sơn mà đẹp, phương Tốn có thủy phóng quang) là núi đẹp Lục Bạch phối với thủy Nhất Bạch, sao lại không đỗ trạng nguyên?
Tắc Tiên gỉải thích:
Tam Bạch Nhất Lục Bát (tức Nhất Bạch, Lục Bạch, Bát Bạch) đáo sơn đáo hướng. Tuy thế quái trong vận 6 được hai cuộc Nhâm Bính, Bính Nhâm; nhưng trước mắt giả như hình thế dừng tụ thì đương nhiên
Bạch Hạc Minh giải thích:
Cuộc đất này là kiêm tuyến, đồ hình dùng khởi tinh, cho nên sao nhập trung cung phải lấy từ vận tinh của tọa và hướng để bài bố.