6/54 MỘ TỔ CỦA HỌ NÀO ĐÓ Ở THƯỢNG NGU (sơn Ất hướng Tân, lập vào vận 2)

Hình 23, sơn Ất hướng Tân, lập vào vận 2.

Chương Trọng Sơn viết:

Phương Khảm có thủy đến, thẳng tới phương Khôn thì đi mất, ở hướng có thủy. Táng trong tuần Giáp Thân lưu niên Bính Tuất, vận Nhị Hắc là chủ sự, song Nhị đến sơn vốn phạm thủy thần thướng sơn, chủ về tổn tài đinh, may là phía sau không có núi chính (chủ phong), mà lại mừng là vì có sông nước tụ, cho nên hung hóa thành cát. Sau khi táng gia đạo thuận lợi bình bình. Con cháu về sau vào cuộc tam tiêu Tỵ Dậu Sửu, người mạng Tỵ phát phú, người mạng Dậu phát tú. Qua vận cung Tam Bích, mệnh cuộc Cửu Tử thì Nhất Cửu cùng tới, mộc hỏa thông sáng nên phòng trưởng lập gia đình thì đàn bà nắm quyền; đoán định có lo âu về hỏa hoạn, phát sinh hỏa hoạn do lỗi Tứ Cửu là bạn bè.

Nhất Bạch đến sơn thì phòng trưởng thêm người; phòng thứ xuất hiện người mạng Dậu phát tài nguyên. Qua vận Tứ Lục thì vận tinh nhập tù, nên đề phòng lời qua tiếng lại và quan tai, kèm tổn hao nữ nhân, gia đạo suy thoái.

Qua vận Ngũ Hoàng, gặp thiên tinh Nhất Bạch tới Khảm thì phòng trưởng có thu nhập có tiêu hao, phòng thứ bình bình nhưng thấy có nhiều quả phụ. Qua vận Lục Bạch thì đại bại, về sau không còn vận cát.

Tắc Tiên giải thích:

Hai người mạng Tỵ Dậu là căn cứ vào phi tính ở hướng của địa bàn mà đoán. Nhân nguyên long sơn Ất hướng Tân là thuận tử cùng với phụ mẫu là âm dương tương đồng, cho nên chủ hai người có mạng năm sinh Tỵ Dậu phát. Tuổi Sửu tuy là tam hợp nhưng âm dương khác biệt, cho nên không phát.

Nữ nắm quyền nam vi trung cung và tọa sơn đều là quẻ Âm. Tới vận Chấn thì vượng tinh Tam Bích nhập trung cung, cho nên phòng trưởng có thêm người. Năm Kỷ Dậu Nhất Bạch nhập trung cung, vượng tinh Tam Bích đáo hướng nên phòng thứ có thêm người. Phàm thêm người đều có liên quan tới việc vượng tinh giá lâm. Nhưng vào vận suy mà gặp vượng tinh đáo sơn, lâm hướng, hoặc ở trung cung thì chuyển thành có hung họa hao tổn. Cả hai trạch âm dương đều ứng nghiệm như vậy. Đây gọi là lý “Hư mà không chịu bổ”

Qua vận 4 thì địa vận cáo chung, gia đạo suy bại. Tổn hại phụ nữ vì Tốn là quẻ âm. Lục Thất cùng ở đầu hướng, vận 4 Lục lại lâm hướng, quan tinh trùng trùng, cho nên kiêm cả tai họa chốn quan trường, lời qua tiếng lại thi phi.

Vận Ngũ Hoàng hai cung Khảm, Tốn hợp thành Nhất Tứ đồng cung, cho nên ứng việc vào trường thi.

Vận 6 đại bại, về sau không có vận cát vi hướng tính nhập trung cung, sao không đác lệnh.

Bạch Hạc Minh giải thích:

Giải thích trường hợp này, Tắc Tiên nói khi trạch vượng thì hai người sinh năm Tỵ Dậu phát, còn người tuổi Sửu thì không phát. Tra xét đại quái tam nguyên thì thấy Sửu là quẻ địa nguyên, Dậu là quẻ thiên nguyên, Tỵ là quẻ nhân nguyên, thiên nhân hai nguyên âm dương tương đồng, cho nên hai người tuổi Tỵ Dậu phát. Còn người sinh tuổi Sửu là quẻ địa nguyên, nếu so với âm dương của hai nguyên thiên nhân thì tương phản, cho nên không vượng được.

Trong văn lại chỉ ra “nhân nguyên long sơn Ất hướng Tân, thuận tử”, đây là chỉ quẻ nhân nguyên phương vi hướng là bay thuận, cho nên gọi là thuận tử.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *