3. HUYỀN KHÔNG PHI TINH CÙNG 24 SƠN
Huyền không phi tinh còn gọi là Cửu cung phi tinh, nói chung đơn giản gọi là sắp xếp phi tinh, lấy Tử Bạch cửu tinh làm chủ, trong khi đó Huyền Không đại quái lại lấy quẻ hào làm chủ, phối hợp dùng cả Huyền Không phi tinh và đại quái là mức độ cao nhất của Huyền Không phong thủy. Sự tốt xấu, cát hung của cửu tinh, trong các nguyên các vận khác nhau sẽ xuất hiện tốt xấu, cát hung khác nhau, hiện tại tuy tốt đẹp, song tương lai, khi nguyên và vận thay đổi, cát khí mất đi, thì mộng đẹp tan thành mây khói!
Huyền Không phi tinh lấy sự phối hợp của Cửu tinh trong Lạc Thư làm chủ, Cửu tinh trong các tình huống khác nhau sẽ xuất hiện thuận phi (bay thuận) hoặc nghịch phi (bay nghịch). Cửu cung tức chín cung, từ đó cũng xuất hiện tổ hợp các sao khác nhau. Chín phi tinh trong nguyên, vận khác nhau sẽ sản sinh ra cát hung khác nhau, sự việc mỗi phi tinh làm chủ cũng sẽ khác nhau, mà khi chúng kết hợp, tổ hợp bằng các quy tắc khác nhau, thì đối với phong thủy chúng sẽ sinh ra lực tác động, ảnh hưởng khác nhau. Còn về tốt hay xấu, hung hay cát, ta cần phải tùy vào tính chất của phi tinh mà suy đoán.
Nghiên cứu phi tinh, trước tiên cần phải nghiên cứu quỹ đạo của Cửu cung và Lạc Thư, sau đó học tới đồ hình sắp xếp trạch vận, sau khi đã tinh thông hai bước trên rồi, mới nghiên cứu tiếp đến tính chất cát hung và sự việc mà các sao làm chủ.
Bắt đầu nghiên cứu Huyền Không phi tinh, nên hiểu rõ trình tự sắp xếp của 24 sơn, điều này rất cần thiết cho người mới nghiên cứu.
“Thanh Nang Tự” có viết “Tiên thiên La kinh thập nhị chi, Hậu thiên tái dụng can dữ duy”.
Câu này nhằm chỉ 8 can 4 duy lại thêm 12 chi tổng cộng có 24, đây là chỉ 24 sơn của La kinh. 24 sơn tức là 24 phương vị.
24 sơn ngoài việc biểu thị phương vị ra còn bao gồm cả Ngũ Hành, quái lý (lý của quẻ), cùng hợp xung của Can Chi. Chúng tôi xin giới thiệu lần lượt dưới đây:
THẬP NHỊ ĐỊA CHI VÀ HÀNH CỦA NÓ
Tý (Thủy), Sửu (Thổ), Dần Mão (Mộc), Thìn (Thổ), Tỵ Ngọ (Hỏa), Mùi (Thổ), Thân Dậu (Kim), Tuất (Thổ), Hợi (Thủy).
NGŨ HÀNH CỦA PHƯƠNG VỊ
(Hình minh họa vòng tròn phương vị)

Đông Tây Nam Bắc cùng ngũ hành Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ của 24 sơn có quan hệ hỗ tương mật thiết. Phương Đông thuộc Mộc, phương Tây thuộc Kim, mà Kim khắc Mộc; phương Nam thuộc Hỏa, phương Bắc thuộc Thủy, mà Thủy khắc Hỏa, còn hành Thổ chính là trung tâm của 24 sơn.
TỨ XUNG TÝ NGỌ MÃO DẬU
(Hình minh họa la kinh)

Bốn chính vị của 24 sơn là dựa vào khẩu quyết sắp xếp 12 địa chi của Tiên thiên La kinh. Tứ chính đó là: chính Bắc, chính Nam, chính Đông, chính Tây. Địa chi Tý (hành Thủy) ở bên dưới của đồ hình, vì Thủy trong giới tự nhiên ở dưới Hỏa, bên trên là Thái Dương thuộc Hỏa, mà Ngọ Hỏa chính ở vị trí này. Mão thuộc Mộc ở phương Đông, Dậu thuộc Kim ở phương Tây, nguyên lý tương xung Mão Dậu, cũng là lý do hai cái đối nhau, một ở Đông một ở Tây.
SỰ SẮP XẾP CỦA 12 CHI
La kinh có 24 cách. Xin quý độc giả lưu ý quy luật giữa chúng với nhau: 12 địa chi sắp xếp theo hướng thuận chiều kim đồng hồ, căn cứ vào 12 tiết của tháng, bắt đầu từ Dần, Dần Mão Thìn ở phương Đông, Tỵ Ngọ Mùi ở phương Nam, Thân Dậu Tuất ở phương Tây, Hợi Tý Sửu ở phương Bắc. Sau khi đem 12 địa chi điền vào vị trí trong cung, quý vị sẽ dễ dàng hiểu được cách sắp xếp cơ bản của 24 sơn cùng quan hệ đối xung của 12 địa chi. Có 6 tổ hợp xung sau đây:
Tý Ngọ xung nhau
Mão Dậu xung nhau
Thìn Tuất xung nhau
Sửu Mùi xung nhau
Dần Thân xung nhau
Tỵ Hợi xung nhau
(Hình minh họa vòng tròn xung khắc)

CÁCH SẮP XẾP CỦA 10 THIÊN CAN

Xin lưu ý sắp xếp 24 sơn trên la kinh, ngoài 12 địa chi, còn có 10 thiên can sắp xếp bên trên. Cách thức sắp xếp 10 thiên can được quyết định bởi thuộc tính của Ngũ Hành, Âm Dương:
Giáp là Dương Mộc, Ất là Âm Mộc, phương Đông thuộc Mộc, nên Giáp Ất ở phương Đông. Giáp là Dương nên đóng bên trái Mão, Ất là Âm nên đóng bên phải Mão.
Bính là Dương Hỏa, Đinh là Âm Hỏa, phương Nam thuộc Hỏa, nên Bính Đinh ở phương Nam. Bính là Dương nên ở bên trái Ngọ, Đinh là Âm nên ở bên phải Ngọ.
Mậu là Dương Thổ, Kỷ là Âm Thổ, trung cung (trung tâm) thuộc Thổ, nên Mậu Kỷ thuộc trung cung.
Canh là Dương Kim, Tân là Âm Kim, phương Tây thuộc Kim, nên Canh Tân ở phương Tây. Canh là Dương nên ở bên trái Dậu, Tân là Âm nên ở bên phải Dậu.
Nhâm là Dương Thủy, Quý là Âm Thủy, phương Bắc thuộc Thủy, nên Nhâm Quý ở phương Bắc. Nhâm là Dương nên ở bên trái Tý, Quý là Âm nên ở bên phải Tý.
Vì sao Dương can lại xếp bên trái địa chi và Âm can lại xếp bên phải địa chi? Là vì Dương luôn dịch chuyển về bên trái (thuận chiều kim đồng hồ) và Âm luôn dịch chuyển về bên phải (ngược chiều kim đồng hồ).
Thiên Can có 4 tổ hợp xung đối sau:
Giáp Canh xung nhau
Ất Tân xung nhau
Bính Nhâm xung nhau
Đinh Quý xung nhau
SỰ SẮP XẾP CỦA CÁC QUÁI (QUẺ)
(Hình minh họa Tứ Chính và Tứ Duy)

“Thanh Nang Tự” viết “Hậu thiên lại dùng Can và Duy”. Can là chỉ Thiên Can, Duy là chỉ Tứ Duy.
Hình bên trái chỉ về “Tứ Chính”, hình bên phải là chỉ “Tứ Duy”.

Điền các quẻ của Tứ Duy vào những chỗ trống trong đồ hình ta đã hoàn chỉnh xong 24 sơn. Lại hỏi vì sao chỉ dùng quẻ của Tứ Duy để điền vào 24 sơn? Là vì vị trí quẻ của Tứ Chính trùng với vị trí của 4 địa chi Tý Ngọ Mão Dậu, nên 4 địa chi này còn được gọi là Tứ Chính. Sau khi sắp xếp xong 24 sơn, lại đem 8 phương chia làm 24 phương vị (xem hình ở dưới). 24 sơn biểu thị rõ ràng, tinh tế tọa hướng của Âm Dương trạch, phương vị của sơn thủy gần đó cùng phương vị của phòng, cửa, bếp, từ đó phối hợp với trạch vận mà luận đoán. Hơn thế nữa, 24 sơn này còn có thể dùng cho việc chọn ngày lành tháng tốt. Ví dụ như muốn chọn ngày lành để dọn nhà, cho Dương trạch Tọa Ngọ hướng Tý, thì không nên chọn ngày Tý, bởi ngày Tý xung với tọa sơn Ngọ. Nếu đã hiểu và tinh thông mối liên hệ nội tại của 24 sơn thì bất luận học môn thuật số nào cũng sẽ nhanh chóng thành công.