Hình 17, tọa Quý hướng Đinh kiêm Sửu Mùi, xây dựng trong vận 8.


Phương của sơn không dùng thế. Theo lý, phương của sơn cũng phải dùng thế. Cuộc này kiêm hướng, tất nhiên sơn và hướng đều phải dùng thế, chứ không phải chỉ thế hướng mà không thế sơn. Cuộc thế hoàn toàn là cuộc “phong hỏa” (khói lửa). Nếu không dùng kiêm chỉ chọn chính hướng Quý Đinh thì do hình thế của cuộc khá tốt, chỉ có lỗi là có hỏa hoạn, mà không đến nỗi xảy ra tai hoạ giặc dã đến cướp đoạt tàn sát.
Lời đoán của Chương Trọng Sơn:
Hình này ai tinh ở hướng là Tam, Tam tức là Ất, phi tinh bài bố tới Ất là Cự Môn, không dùng Tam mà dùng Nhị nhập trung cung là dùng phép thế quái.
Công đường phủ kiêm Mùi nên dùng biến quái, Đinh tức là Ất, Ất tức là Cự Môn, Ất là âm nên đi nghịch, Nhị nhập trung cung, Thất đến hướng, vận 8 tu tạo, dùng biến quái thì Thất đến hướng. Ở hướng phạm cuộc Tam Thất đến trùng nhau, chủ bị trộm cướp”, cho nên người Di đã đến cướp tài sản ở phủ đường Ninh Ba.

“ Cuộc này đại không vong, nhưng thấy toàn bàn hợp thập, như này thì toàn bàn hợp thập cũng không tính là cái gì!”
Các phương Mùi Khôn Thân có song Ngũ Liêm trinh đồng cung với Nhất Bạch, Nhất thủy là giặc, Liêm Trinh là Hỏa.

“Nhưng mà ở đây không thấy nói đến điều kiện ngoại cảnh, thật là kì lạ, luận như này nhà nào chả xấu hết, thoát sao được, không hiểu kiểu gì”
Các phương Canh Dậu Tân là Ly hỏa, tức toàn là lửa, Nhất Lục lại ở cùng một cung, Nhất là thủy tặc (giặc biển), lục là binh đao, cho nên chủ về giặc cướp từ cửa tây vào, đốt cháy hết công đường.

Ở các phương Tuất Kiền Hợi lại thêm Ly, ở Ly thêm Liêm Trinh;

các phương Nhâm Tý Quý, Lục Cửu cùng đến;

các phương Thìn Tốn Tỵ Tam Thất đến chồng chất nhau;

các phương Sửu Cấn Dần, cũng là Nhị Thất cùng đến, Nhị là Hỏa tinh, Thất là binh đao,

“lúc trước nhị là thổ tinh, giờ lại là hỏa tinh, không hiểu kiểu gì?”
phương Chấn cũng là phong hỏa đồng cung, cho nên chủ về khắp cả thành đều là giặc và lửa.

“đoán như này thì ai chơi, căn bản nguyên do chính là do phủ này phạm đại không vong rồi, chứ đoán như này thì mà loạn hết!”
Tắc Tiên giải thích:
Quan phủ là chốn phát hiệu lệnh để chăn dắt dân, là nơi tập trung nhiều hoàn cảnh thịnh suy, mọi đắc thất hưu cữu đều liên quan đến việc trị lý dân tình, chứ không như nhà của tư nhân chỉ liên quan tới họa phúc của một gia đình. Vì vậy chọn đất không thể sơ thất, đường cuộc nên chọn hình thế nghiêm chỉnh hùng tráng, khí tượng bao la; còn khi tu tạo phải hợp thiên tâm chính vận, sao đầu hướng phải là khí sinh vượng quý tú, thần thái phải bình ổn thâm trường. Phải kỵ khí của sát thần đáo hướng để thừa tiếp được mọi sự tốt đẹp của cuộc đất. Vì vậy khi luận các trạch loại này phải thật nghiêm minh tinh tế.
Đây là cuộc ở vận 8 dùng quẻ thế, thoái thần cai quản hướng, lệnh tinh rơi vào cung Cấn, quý tinh không đương quyền.

Nhà vừa mới xây dựng xong thì tinh khí đã suy là điều mà dương trạch rất kỵ. Huống hồ đây là phủ đường quan trọng mà không chọn được vượng tinh hay sao! Huống hồ tinh tú toàn bàn, việc tốt xấu của các sao là lấy sự chuyển dời đầu hướng để làm nơi nạp khí, nhất định phải hợp thời đúng vận để làm tiêu tan khí của các sát thần.

“Câu nói tinh tú toàn ở đây ám chỉ toàn bàn hợp thập, thông kí các cung, hướng suy thì toàn bàn suy rồi!”
Chấn là Thiên Lộc, Canh là Võ Tước, dùng đắc thời thì Chấn Canh hội hợp thành cuộc chủ về “Văn thần mà kiêm quyền võ tướng”. Đối với Tam Thất có gì đáng lo; Nhất Lục, Nhị Thất, Cửu Lục, Liêm trinh cũng không phải là trị không được. Cho nên tạo nên cuộc khắp thành giăng lửa là vì không đáng thế mà dùng thế, căn do là hướng ở vị trí suy bại. Xem đó có thể nhận ra tu tạo mà không hợp thiên tâm là điều đáng sợ.
Dựa vào lời đoán trên, đủ biết hai trạch âm dương đều cần tâm linh hoạt và đôi mắt sắc bén. Hình thế lý khí đều phải tường tận, nếu chỉ khư khư cứng nhắc thì không đủ để nói tới phép Huyền Không vậy. Nhưng việc tìm đất trước tiên phải tích đức, người bất thiện cần phải thận trọng. Đó là nhận thức của Thẩm Trúc Nhưng ở Tiền Đường.
Bạch Hạc Minh giải thích:
Đoạn văn này thuyết minh việc ảnh hưởng Phong Thủy của phủ đường toàn thành không chỉ ảnh hưởng một nhà.
Trạch này dùng thế, tức là khẩu quyết bài bố phi tính Tý Quí và Giáp Thân, Liêm Trinh cùng đi một đường”. Trạch này ngoài việc đầu hướng bị thất vận, còn phạm hướng xuất quái, phạm kỵ hướng xuất quái là luận đại hung (hướng Đinh là quẻ Ly, hướng Mùi là quẻ Khôn).

“xuất quái là như này đây, đại không vong, nguy hiểm trùng trùng, đa phần nhà dân ở Việt Nam rất nhiều xuất quái, không hiểu kiểu gì?
Trong sách “Trạch Vận Tân Án” luận về hướng xuất quái như sau:
“Hướng xuất quái phần nhiều tiến thoái khó dung, không có tàn cuộc, ở nơi như vậy thì vợ chồng không vui, chủ tớ không hợp, anh em bất hòa, chuyện bất hạnh liên tiếp phát sinh.